CÁCH LẮP ĐẶT VÀ VẬN HÀNH MÁY HÀN TIG

Máy hàn TIG hay thiết bị hàn tig gồm nhiều bộ phận và nhiều hệ thống, trong đó có nhiều hệ thống đòi hỏi khi lắp ghép phải có độ chính xác cao như hệ thống khí bảo vệ, hệ thống làm mát mỏ. Trước khi rèn luyện kỹ năng, người học cần hiểu rõ cấu tạo, nguyên lý làm việc, vận hành thành thạo thiết bị hàn TIG.

Cấu tạo và nguyên lý làm việc của Máy hàn TIG

Thực chất TIG (Tungsten Inert Gas) là một thuật ngữ tiếng Anh dùng để chỉ phương pháp hàn hồ quang điện cực không nóng chảy trong môi trường khí trơ bảo vệ. Theo tiêu chuẩn của Hoa Kỳ phương pháp này được viết là GTAW (Gas Tungsten Arc Welding), theo tiêu chuẩn của Đức có tên là WIG (Vônphram Inert gasscheweizen).

Trong các bản vẽ kỹ thuật theo tiêu chuẩn ISO, phương pháp hàn TIG được viết dưới dạng ký hiệu số là . Hàn TIG thuộc nhóm hàn nóng chảy, trong đó nguồn nhiệt điện cung cấp bởi hồ quang được tạo thành giữa điện cực không nóng chảy (Wolfram) và vũng hàn. Vùng ảnh hưởng nhiệt,vùng kim loại nóng chảy và điện cực W được bảo vệ bởi môi trường khí trơ (Ar, He hoặc Ar + He) để ngăn cản những tác động có hại của Oxi và Nitơ trong không khí.

Mỏ hàn TIG

Cấu tạo mỏ hàn TIG Cấu tạo cơ bản của mỏ hàn TIG gồm có : Công tắc mỏ hàn, tay cầm, điện cực Wolfram, ty Argon, ống lót, thân mỏ, ống kẹp điện cực, nắp mỏ hàn.

Công tắc mỏ hàn có thể được bố trí trên tay cầm hoặc có thể tách riêng và được làm ở dạng dùng chân đạp . Điện cực Vonfram được lựa chọn dựa vào màu sắc, vật liệu hàn, loại dòng điện …… Ngoài ra, cần phải chú ý đến góc độ đầu điện cực. Đầu điện cực được mài nhọn thường cho mối hàn hẹp nhưng độ ngấu sâu tốt. Ngược lại, đầu điện cực được mài tròn cho mối hàn rộng nhưng chiều sâu ngấu kém.

Ty Argon phần lớn được bằng gốm , còn được gọi là chụp sứ. Nó được sản xuất theo nhiều kích cỡ ( đường kính đầu chụp) khác nhau để có thể thay thế và sử dụng phù với điều kiện làm việc (khe hở rộng/hẹp).

Máng kẹp điện cực được khía rãnh ở phần đầu giúp cho việc điều chỉnh điện cực được dễ dàng. Nắp mỏ hàn có thể thay đổi (dài hoặc ngắn) để sử dụng cho các trường hợp hàn khác nhau, đặc biệt khi hàn ở những vị trí hẹp, khó chuyển động … thì cần phải dùng đến dạng mỏ ngắn.

Chức năng – Phân loại

– Chức năng của mỏ hàn TIG là dẫn dòng điện và khí trơ vào vùng hàn. Điện cực Vonframdẫn điện được giữ chắc chắn trong mỏ hàn bằng đai giữ với các vít lắp bên trong thân mỏ hàn. Các đai này có kích thước phù hợp với đường kính điện cực.
– Khí được cung cấp vào vùng hàn qua chụp khí. Chụp khí có ren được lắp vào đầu mỏ hàn để hướng và phân phối dòng khí bảo vệ.
– Mỏ hàn có các kích thước và hình dáng khác nhau phù hợp với từng công việc hàn cụ thể.

QUE HÀN TIG

 

Mỏ hàn TIG được chia làm hai loại theo cơ cấu làm mát 

* Mỏ hàn làm mát bằng khí : Dùng với dòng điện hàn nhỏ hơn 120A.
* Mỏ hàn làm mát bằng nước : Dùng với dòng điện hàn lớn hơn 120A

Nguồn điện hàn

– Cung cấp dòng hàn một chiều hoặc xoay chiều, hoặc cả hai.
– Tùy ứng dụng, nó có thể là biến áp hàn, chỉnh lưu, máy phát điện hàn.
– Nguồn điện hàn cần có đường đặc tính ngoài dốc (giống như cho hàn SMAW).
– Để tăng tốc độ ổn định hồ quang, điện áp không tải khoảng 70-80V.
– Bộ phận điều khiển thường được bố trí chung với nguồn điện hàn và bao gồm bộ contactor đóng ngắt dòng hàn, bộ gây hồ quang tần số cao, bộ điều khiển tuần hoàn nước làm mát (nếu có) với hệ thống cánh tản nhiệt và quạt làm mát, bộ khống chế thành phần dòng một chiều (với máy hàn xoay chiều/ một chiều).

CÁCH HÀN INOX MỎNG BẰNG PHƯƠNG PHÁP HÀN TIG

 

Nguồn điện hàn xoay chiều

– Thích hợp cho hàn Nhôm , Manhê và hợp kim của chúng. Khi hàn, nửa chu kỳ dương (của điện cực) có tác dụng bắn phá lớp màng oxít trên bề mặt và làm sạch bề mặt đó. Nửa chu kỳ âm nung nóng kim loại cơ bản.

-Nguồn điện xoay chiều hình sin : điều khiển dòng hàn bằng cảm ứng bão hòa (cổ điển). Nó có ưu điểm là hồ quang cháy êm. Nhược điểm là phải thường xuyên gián đoạn công việc hàn khi cần thay đổi cường độ dòng hàn do có nhu cầu giảm dòng hàn xuống tối thiểu khi hàn để vũng hàn kết tinh chậm (không có điều khiển từ xa).

CÁCH HÀN TIG – CHUẨN BỊ KIM HÀN

Với hàn Nhôm, do có hiện tượng tự chỉnh lưu của hồ quang đặc biệt khi hàn dòng nhỏ nên cần dùng kèm bộ cản thành phần dòng một chiều (mắc nối tiếp bộ ắc qui có điện dung lớn, bộ tụ điện có điện dung lớn), nhưng công việc này lại có thể gây ra lẫn W vào mối hàn. Nguyên nhân là do khi điện cực ở cực dương để khử màng oxit nhôm thì nó có thể bị nung nóng quá mức nếu bộ cảm kháng bão hòa không được thiết kế thích hợp để hạn chế biên độ tối đa dòng hàn xoay chiều, làm nó bị xói mòn thành các vụn nhỏ dịch chuyển vào vũng hàn).

Cần phải sử dụng bộ cao tần (công suất nhỏ 250-300W, điện áp 2-3 kV, tần số cao 250-1000 kHz bảo đảm dòng điện này chỉ có tác dụng trên bề mặt , an toàn với thợ hàn) để gây hồ quang không tiếp xúc (khoảng 3mm) và tạo ổn định hồ quang trong suốt quá trình hàn.

– Nguồn điện xoay chiều có sóng hình vuông (xung) : cho phép giảm biên độ tối đa của dòng hàn so với dạng sóng hình sin (khoảng 30%) có cùng công suất nhiệt. Do đó ít có khả năng làm lẫn W vào mối hàn. Ngoài ra nó còn có một số đặc điểm sau :

+ Giảm biến dạng do khống chế được công suất nhiệt (giảm sự tích lũy nhiệt)

+ Dễ hàn ở mọi tư thế.

+ Không đòi hỏi tay nghề của thợ hàn thật cao.

+ Chất lượng mối hàn được cải thiện đáng kể.

+ Thích hợp cho cơ khí hóa, tự động hóa quá trình hàn.

+ Thích hợp khi hàn các chi tiết quan trọng như đường hàn lót mối hàn ống nhiều lớp , hàn các chi tiết chiều dày không đồng nhất, hàn các kim loại khác nhau.

+ Lực điện từ mạnh của các xung điện cho phép hạn chế rỗ xốp trong các mối hàn và tăng chiều sâu ngấu.